Glucose máu là gì? Vai trò của glucose trong cơ thể người? Tìm hiểu glucose và bệnh đái tháo đường

Quản trị

04/10/2018

0 Comments

Glucose là nguồn năng lượng chính trong cơ thể: Glucose được đốt cháy tại các tế bào tạo ra năng lượng, CO2 và H2O. Là nguyên liệu để tổng hợp Glycogen, một số acid amin và các acid béo. Glucose được điều hòa bởi gan, insulin của tuyến tụy và một số hormone khác. Glucose là […]

Glucose là nguồn năng lượng chính trong cơ thể: Glucose được đốt cháy tại các tế bào tạo ra năng lượng, CO2 và H2O. Là nguyên liệu để tổng hợp Glycogen, một số acid amin và các acid béo. Glucose được điều hòa bởi gan, insulin của tuyến tụy và một số hormone khác. Glucose là nguồn cung cấp năng lượng chính cho hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích mà glucose mang lại thì cũng có những hậu quả khi lạm dụng glucose. Dưới đây là những thông tin bổ ích giúp bạn đọc hiểu thêm về glucose.

 

1. Glucose là gì?

– Glucose là một loại đường đơn giản.

– Công thức phân tử C6H12O6 phân tử khối 180

– Trong tự nhiên, glucose có trong hầu hết tất cả các bộ phận của cây và đặc biệt có nhiều trong hoa quả chín.

2. Glucose máu là gì?

Glucose máu hay còn gọi là đường máu:

– Cơ thể của tất cả các loài động vật đều có một lượng nhỏ glucose trong máu với nồng độ thường không thay đổi.

– Nồng độ bình thường của glucose trong cơ thể người là 0,1%.

3. Vai trò của glucose trong cơ thể người

– Glucose là nguồn năng lượng chủ yếu và trực tiếp của cơ thể người và động vật, được dự trữ chủ yếu ở gan dưới dạng glycogen. Glucose là nguồn cung cấp năng lượng duy nhất cho não vì chỉ có các phân tử glucose mới qua được hàng rào máu não.

– Glucose tham gia vào quá trình tạo các tổ chức liên kết cơ bản trong cơ thể con người: màng tế bào, hormon, men, vitamin, kháng nguyên, kháng thể.

4. Nguồn cung cấp glucose

Có 2 nguồn cung cấp glucose chính :

– Ngoại sinh: Đưa từ bên ngoài vào qua thức ăn, nước.

– Nội sinh: Tự tổng hợp từ các quá trình chuyển hóa lipid, protid,… và từ các nguồn chuyển hóa khác.

5. Quá trình tổng hợp glucose

Não và hồng cầu trong máu sử dụng glucose là nguồn năng lượng chính nhưng không tự tổng hợp được glucose.

Các giai đoạn của quá trình tổng hợp glucose theo sơ đồ sau:

Quá trình tổng hợp glucose

Quá trình tổng hợp glucose

6. Bệnh lý Đái tháo đường

Đái tháo đường là một bệnh lý rất phổ biến trong xã hội ngày nay, kết quả điều tra năm 2002 cho thấy, ở Việt Nam, tỉ lệ mắc đái tháo đường trong độ tuổi từ 30 đến 69 tuổi là khoảng 2,7%. Năm 2012, tỉ lệ này tăng gấp đôi lên 5,4%  – con số đáng báo động. Ước tính năm 2010 tỷ lệ đái tháo đường ở nhóm tuổi từ 20 đến 79 là 2,9%, tức khoảng 1,65 triệu người. Dự báo, con số này sẽ tăng lên 3,42 triệu vào năm 2030. Đối tượng mắc bệnh đái tháo đường ngày càng trẻ hóa, và đây là tín hiệu đáng báo động.

Qua thời gian, bệnh đái tháo đường có thể gây tổn hại tim, mạch máu, mắt, thận, thần kinh và chức năng tình dục. Bệnh đái tháo đường làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ, 50% những người mắc đái tháo đường chết do bệnh tim mạch (chủ yếu là đột quỵ). Cùng với tình trạng giảm lưu lượng máu, đau thần kinh ở bàn chân, bệnh này làm tăng nguy cơ loét bàn chân và cuối cùng là hoại tử chi dưới.

Bệnh võng mạc do đái tháo đường là một nguyên nhân quan trọng gây mù lòa, hậu quả của tình trạng tổn thương làm dài các mạch máu nhỏ trên võng mạc. Trong số những bệnh nhân mắc đái tháo đường từ 15 năm, tỉ lệ bị mù lòa chiếm khoảng 2% và khoảng 10% bị suy giảm thị giác nghiêm trọng.

Bệnh đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu gây suy thận. Tỉ lệ bệnh nhân mắc đái tháo đường chết do suy thận chiếm từ 10-20%.

Tỉ lệ bệnh nhân đái tháo đường mắc các bệnh về thần kinh là khoảng 50%, với các triệu chứng thường gặp nhất là ngứa, đau, tê hoặc yếu ở chân và tay.

glucose xét nghiệm máu tại nhà

Bệnh đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu gây suy thận. Tỉ lệ bệnh nhân mắc đái tháo đường chết do suy thận chiếm từ 10-20%.

7. Đái tháo đường là gì và tiền đái tháo đường là gì? Phân loại đái tháo đường

* Đái tháo đường là một bệnh mạn tính xảy ra khi tuyến tụy không sản xuất đủ insulin hoặc khi cơ thể không sử dụng hiệu quả insulin do tuyến tụy tạo ra .

* Insulin là 1 loại hormone do tế bào Beta (β) ở đảo tụy tiết ra. Insulin điều chỉnh cách lưu trữ và sử dụng glucose (đường) của cơ thể.

* Tăng đường huyết là một tình trạng phổ biến do lượng đường trong máu không được kiểm soát và theo thời gian sẽ gây tác hại nghiêm trọng đến nhiều hệ thống trong cơ thể, đặc biệt là các dây thần kinh và mạch máu.

* Glucagon cũng là 1 loại hormone khác cùng tham gia vào cơ chế điều hòa lượng glucose trong cơ thể. Glucagon được sản xuất bởi tế bào Anpha (α) của tuyến tụy

Theo đó Insulin là loại hormone duy nhất, làm giảm được nồng độ glucose trong máu. Ngược lại, Glucagon lại có nhiệm vụ làm tăng nồng độ glucose trong máu, và giữ cho nồng độ glucose máu không bị giảm xuống mức quá thấp. Hai loại hormone này bổ sung cơ chế cho nhau để điểu hòa lượng đường trong máu. Glucose khi vào cơ thể sẽ đi vào quá trình đường phân để tạo năng lượng (ATP) cung cấp cho cơ thể.

* Trong phân loại, bệnh đái tháo đường có 3 thể.

– Đái tháo đường typ I phụ thuộc insulin thường xảy ra ở trẻ em, người trẻ tuổi có đặc trưng là cơ thể không tạo ra đủ insulin và vì vậy cần bổ sung insulin hằng ngày.

– Đái tháo đường typ II không phụ thuộc insulin xảy ra nhiều hơn ở người cao tuổi, xuất hiện nhiều khi cơ thể không sử dụng hiệu quả insulin.

– Bệnh đái tháo đường thai kỳ là tình trạng tăng đường huyết xảy ra hoặc khởi phát trong quá trình mang thai. Đái tháo đường liên quan đến dinh dưỡng và các thể đái tháo đường khác.

glucose xét nghiệm máu tại nhà

Đái tháo đường là một bệnh mạn tính xảy ra khi tuyến tụy không sản xuất đủ insulin hoặc khi cơ thể không sử dụng hiệu quả insulin do tuyến tụy tạo ra.

8. Các xét nghiệm để chẩn đoán đái tháo đường

8.1 Xét nghiệm đường niệu (glucose nước tiểu)

Nếu cơ thể khỏe mạnh bình thường, không có các vấn đề về bệnh lý tiểu đường hay đái tháo đường thì glucose sẽ được hấp thu gần như hoàn toàn tại ống thận, lượng glucose trong nước tiểu lúc này chỉ khoảng 0,5 mmol/24h.

Glucose niệu sẽ xuất hiện khi lượng đường trong máu tăng cao khiến thận sẽ không thể hấp thu được hết, bình thường ngưỡng hấp thu của thận với glucose là 8.9-10 mmol/L.

Glucose niệu là một xét nghiệm ban đầu và thường quy để sàng lọc đái tháo đường. Tuy nhiên, để chẩn đoán chính xác cần kết hợp với 1 số xét nghiệm khác để khẳng định chắc chắn và đưa ra hướng điểu trị phù hợp hay chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn uống và tập luyện phù hợp.

* Trong 1 số trường hợp, xét nghiệm này sẽ cho ra kết quả dương tính (+):

– Ở những người có ngưỡng thận thấp (khả năng tái hấp thu của thận kém) <1,7g/L. Đường máu chưa cao nhưng đã xuất hiện glucose trong nước tiểu.

– Ở một số người bị rối loạn bệnh lý về enzym bẩm sinh sẽ xuất hiện 1 số đường khác: Fructose, galactose nên cũng cho kết quả dương tính.

* Có 2 cách để thực hiện xét nghiệm glucose niệu trong nước tiểu

– Định tính bằng thuốc thử Fehling

– Định lượng bằng máy xét nghiệm nước tiểu tự động.

glucose xét nghiệm máu tại nhà

Glucose niệu là một xét nghiệm ban đầu và thường quy để sàng lọc đái tháo đường

8.2 Định lượng glucose máu ngẫu nhiên

Theo tiêu chuẩn của WHO, một trong các tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường là xét nghiệm máu tại một thời điểm bất kỳ mà giá trị glucose máu > 11,1 mmol/L (huyết tương), hoặc > 10,0 mmol/L (máu toàn phần) thì có thể kết luận bị bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, nếu nồng độ glucose máu tại thời điểm bất kỳ < 7,8 mmol/L thì phải làm thêm nghiệm pháp đường huyết để khẳng định.

8.3. Định lượng glucose máu lúc đói

Là xét nghiệm phổ biến và thường quy nhất để phát hiện và chẩn đoán đái tháo đường.

Nồng độ glucose huyết tương lúc đói có giá trị trung bình 3.88 – 6.38 mmol/L. Nếu định lượng đường huyết lúc đói ở 2 lần xét nghiệm gần nhau > 7.0 mmol/L thì được coi là đái tháo đường. Đường máu trong huyết tương cao hơn đường trong máu toàn phần 10-15%.

8.4. Định lượng glucose máu sau ăn 2 giờ

Xét nghiệm này hiện nay rất ít được sử dụng vì được thực hiện bằng cách lấy máu của bệnh nhân sau khi bệnh nhân ăn được 2h nhưng không thể kiểm soát được khẩu phần ăn của bệnh nhân, kiểm soát chính xác giờ ăn của bệnh nhân, sự hấp thu thức ăn.

8.5. Nghiệm pháp tăng glucose máu bằng đường uống

Các bước tiến hành:

– Lấy máu xét nghiệm glucose lúc đói trước khi uống.

– Cho bệnh nhân uống 75g glucose hòa trong nước trong vòng 5 phút, trẻ em sẽ uống 1,75g/kg cân nặng.

– Lấy máu bệnh nhân đem xét nghiệm tại các thời điểm.

9. Chỉ số đường huyết bao nhiêu là bình thường?

Các chỉ số đường huyết đo lúc đói

Các chỉ số đường huyết đo lúc đói

Các chỉ số đo lường đường huyết

Các chỉ số đo lường đường huyết

Chỉ số đường huyết bình thường

Chỉ số đường huyết bình thường

10. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến hành vi lối sống

Bao gồm: béo phì, ít hoạt động thể lực, chế độ ăn, yếu tố khác

10.1 Béo phì

Một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người có BMI >25 có nguy cơ bị bệnh đái tháo đường typ II nhiều hơn 3,74 lần so với người bình thường. Béo phì là một trong những nguy cơ có thể phòng tránh được của bệnh đái tháo đường typ II . Ở Pháp 40 – 60% người bị béo phì bị bệnh đái tháo đường typ II và 70 – 80% người bị bệnh đái tháo đường typ II bị béo phì.

10.2 Ít hoạt động thể lực

Trên thế giới có nhiều nghiên cứu khác nhau cho thấy việc tập luyện thể lực thường xuyên có tác dụng làm giảm nhanh nồng độ glucose huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường typ II, đồng thời duy trì sự bình ổn của lipid máu, huyết áp cải thiện, tình trạng kháng insulin và giúp cải thiện tâm lý. Sự phối hợp giữa hoạt động thể lực thường xuyên và điều chỉnh chế độ ăn có thể giúp làm giảm 58% tỷ lệ mới mắc đái tháo đường typ II.

10.3 Chế độ ăn

Nhiều nghiên cứu đã nhận thấy tỷ lệ bệnh đái tháo đường tăng cao ở những người có chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa, nhiều cacbohydrat tinh chế. Ngoài ra thiếu hụt các yếu tố vi lượng hoặc vitamin góp phần thúc đẩy sự tiến triển của bệnh ở người trẻ tuổi cũng như người cao tuổi. Ở người già mắc bệnh đái tháo đường có sự tăng sản xuất gốc tự do nếu bổ sung các chất chống oxi hóa như vitamin C, vitamin E thì phần nào cải thiện được hoạt động của insulin và quá trình chuyển hóa. Một số người cao tuổi mắc đái tháo đường bị thiếu magie và kẽm, khi được bổ sung những chất này đã cải thiện tốt được chuyển hóa glucose.

10.4 Các yếu tố khác

Bao gồm: Stress, lối sống tây hóa, thành thị hóa, hiện đại hóa. Các nghiên cứu khác nhau trên thế giới đã cho thấy bệnh đái tháo đang tăng nhanh ở những nước đang phát triển, đang có tốc độ đô thị hóa nhanh, đó cũng là những nơi đang có sự chuyển tiếp về dinh dưỡng, lối sống.